Phẫu thuật ghép gan

Phẫu thuật ghép gan

Ngày cập nhật cuối cùng: 06-Nov-2023

Ban đầu được viết bằng tiếng Anh

Ghép Gan

Phẫu thuật ghép gan bệnh viện




Tổng Quan

Sau thận, gan là cơ quan lớn được cấy ghép nhiều thứ hai. Năm 2020, có 8.425 người được ghép gan, trong khi 12.261 bệnh nhân được thêm vào danh sách chờ ghép gan.

Ở Hoa Kỳ, xơ gan và bệnh gan mất bù là nguyên nhân cao thứ mười cho ca tử vong nam trong năm 2016. Ghép Gan (LT) là một món quà cứu mạng và là một tùy chọn điều trị thử và thật cho những người bị bệnh gan giai đoạn cuối cấp và mạn. Nó phục hồi lối sống và sức khỏe bình thường, cũng như kéo dài tuổi thọ gần 15 năm. Trong khi tất cả những giải pháp y khoa khác thất bại, sự giới thiệu cấy ghép gan đã cung cấp một lưới an toàn cho điều trị nhiều bệnh gan.

 

Định Nghĩa Ghép Gan

Đối với những bệnh nhân bị bệnh gan giai đoạn cuối mạn và suy gan đột ngột, ghép gan đã trở thành một liệu pháp cứu mạng. Ghép gan có thể bao gồm toàn bộ gan, một phần gan, hoặc một mảnh gan. Đa số cấy ghép là toàn bộ gan, tuy nhiên ghép một phần cũng đang trở nên phổ biến hơn. 

Ghép một phần cho phép hai người nhận nhận nhận dị ghép từ một người hiến tặng tử thi hoặc hiến tặng gan của người hiến tặng còn sống. Khi một người được cấy ghép gan để thuyên giảm tình trạng y tế (ví dụ: chứng thoái hóa dạng tinh bột có tính gia đình), lá gan này được chấp nhận để cấy ghép cho một người khác, điều này gọi là sự hiến tặng Domino.

Theo thống kê từ Cơ Quan đăng kiểm Khoa học người nhận cấy ghép, tỷ lệ sống sót chung của bệnh nhân cao, đạt 90% một năm sau cấy ghép gan từ người hiến tặng đã chết và 77% năm năm sau đó. Kể từ lần thử ghép gan đầu tiên vào năm 1963, đã có sự phát triển liên tục và sự cải thiện đáng kể trong kỹ thuật phẫu thuật, loại hiến cơ quan với sự tăng trưởng của kho hiến tạng, và chú trọng nhiều vào chất lượng cuộc sống của người hiến và người nhận. Vẫn còn những vấn đề lớn, như sự khan hiếm tạng người hiến, nhận diện những ứng viên ghép gan, và phân phối tạng. 

 

Giải Phẫu Học và Sinh Lý Học

Gan là cơ quan lớn nhất trong cơ thể người, và nó nằm dưới sườn số 8-12 bên phải. Nó được chia thành 4 thùy giải phẫu học: thùy phải và trái được tách ra bởi dây chằng hình liều, thùy vuông và thùy đuôi. Bốn thùy gan này không hoạt động đúng cách. Đường Cantlie tách riêng những thùy gan vận hành chính thức, đó là thùy phải và trái.

Khi nó đi qua đáy túi mật và khe tĩnh mạch chủ dưới, đường Cantlie chia gan gần như thành hai phần. Mỗi phần được chia thành hai ngăn, được tách thêm hai ngăn nhỏ nữa tùy theo sự cung cấp máu của động mạch gan và tĩnh mạch cửa, cũng như dòng máu đi ra khỏi tĩnh mạch mật và gan. Những ngăn nhỏ này được đánh số từ 1-8, với thùy đuôi là số 1, và những thùy khác theo chiều kim đồng hồ, thường được gọi là hệ thống Couinaud.

Gan nhận sự cung cấp máu kép từ tuần hoàn toàn thân và tuần hoàn cửa qua tĩnh mạch cửa và động mạch gan. Đơn vị chức năng của gan gọi là tế bào gan, và những tế bào gan này được phân loại như sau:

  • Vùng I là vùng quanh cửa, có sự tưới máu cao nhất nhờ ở gần máu có nhiều oxy từ tĩnh mạch cửa. Có chức năng phần lớn trong chuyển hóa bắt buộc cho sự oxy hóa.
  • Vùng gần tâm là Vùng II.
  • Vùng III xa nguồn cung máu nhất nên được tưới máu ít nhất. Có chức năng như một chất khử độc cho thuốc và độc chất.

 

Những tiêu chí cấy ghép gan

Khi điều trị y tế thất bại trong điều trị bệnh gan giai đọan cuối cấp hoặc mạn, nên khuyến cáo ghép gan. Những bệnh nhân phát triển mất bù gan, như bệnh não do gan, xuất huyết do giãn tĩnh mạch, hoặc cổ trướng, nên nhận sự chăm sóc y tế, và ứng viên ghép gan tiềm năng nên được khám ghép gan đầy đủ.

Xơ gan mất bù chiếm đến 80% ca ghép gan. Những bệnh nhân xơ gan thường được phân loại bằng thang điểm Child-Turcotte-Pugh (CTP score). Thang điểm này được lập ra để đánh giá tiên lượng bằng nghiệm pháp hóa sinh tích hợp và thông tin lâm sàng (albumin, bilirubin huyết thanh, tỷ số chuẩn hóa quốc tế (INR), cổ trướng và bệnh não).

Mô Hình Bệnh Gan Giai Đoạn Cuối (MELD score), được tạo ra lúc đầu để dự đoán sống sót sau phẫu thuật ghép sun hệ cửa xuyên tĩnh mạch cảnh trong gan (TIPS), được khám phá để dự đoán sống sót ở bệnh nhân xơ gan. Nó được công nhận rộng rãi như một chiến lược hữu ích để ưu tiên phân bổ nội tạng cho ghép gan. Điểm MELD đánh giá tử suất 3 tháng của một bệnh nhân bằng cách sử dụng ước lượng số học của hàm lượng creatinin, bilirubin, và INR trong huyết thanh.

Ở bệnh nhi, công thức MELD biến đổi được thành lập để thay thế creatinin theo tuổi, albumin, không lớn. Chính sách Điểm MELD của mạng lưới mua sắm và ghép tạng được sửa đổi vào năm 2016 bổ sung trị số natri huyết tương trong tính toán Điểm MELD. Chứng giảm natri máu là một tình trạng phổ biến ở người xơ gan, và độ nặng của chứng giảm natri máu là một số đo của độ nặng bệnh xơ gan. Những người bị xơ gan cổ trướng, giãn tĩnh mạch xuất huyết, bệnh não do gan, hoặc suy chức năng tế bào gan có MELD > 15 có chỉ định cao cho xét nghiệm ghép gan.

 

Những chỉ định cụ thể cho ghép gan

  • Mãi đến năm 2015, chỉ định phổ biến nhất cho ghép gan là viêm gan C mạn có xơ gan. Từ năm 2016, xơ gan mất bù gây bởi viêm gan C mạn đã vượt qua bệnh gan do rượu và viêm gan nhiễm mỡ không do rượu như một nguyên nhân nhiều thứ ba cho ghép gan. Điều cốt lõi là phải hết viêm gan C mạn tính trước khi ghép gan để tránh tái nhiễm và thất bại cất ghép. Tuy nhiên, trong thập kỷ vừa qua, các thuốc kháng virus trực tiếp phát minh đã được phát triển, giúp điều trị viêm gan C mạn sau khi cấy ghép.

 

  • Viêm gan B từng dẫn đến gia tăng số lượng bệnh gan mạn; tuy nhiên, với việc sử dụng Immunoglobulin viêm gan B (HBIG) và sự phát triển các thuốc kháng virus, viêm gan B đã dẫn đến giảm số ca ghép gan. Ngoài ra, điều trị và kiểm soát nhiễm virus là điều tối quan trọng để dự phòng tái nhiễm sau cấy ghép. Ung thư gan có thể làm trở nặng viêm gan B, là lý do cốt yếu cho ghép gan.

 

  • Ngay cả với các thuốc corticoid dùng dài hạn và ức chế miễn dịch, bệnh viêm gan tự miễn (AIH) có thể tiến triển thành xơ gan và suy gan. Ghép gan được khuyến cáo trong những trường hợp suy gan cấp gây bởi viêm gan tự miễn hoặc xơ gan mất bù kéo dài gây bởi viêm gan tự miễn. Kết quả kém và nhu cầu ghép gan có thể được dự đoán bởi những yếu tố sau: tuổi trẻ, điểm  MELD > 12, hay tái phát, và sự giảm chậm đường cong aminotransferase sau điều trị.

 

  • Bệnh nhân xơ túi mật tiên phát (PBC) bị xơ gan mất bù hoặc ngứa nặng kháng với nhiều loại thuốc cần ghép gan. Việc sử dụng acid Ursodeoxycholic để điều trị PBC, làm chậm sự phát triển bệnh, đã làm giảm nhu cầu ghép gan qua nhiều năm.

 

  • Viêm xơ túi mật tiên phát (PSC); Vì không có điều trị hiệu quả cho PSC, nên ghép gan được coi là một phương pháp điều trị hiệu quả ở những người bị bệnh mất bù hoặc người phát triển ung thư túi mật quanh rễ (nội trong những tiêu chí cụ thể) hoặc những đợt tái phát viêm túi mật do vi khuẩn. Vì PSC liên quan đến bệnh ruột viêm (IBD), nên cần soi đại tràng để kiểm tra CRC trước và sau khi hiến gan.

 

  • Lý do phổ biến nhất cho ghép gan là tổn thương gan liên quan đến rượu. Các bệnh nhân rối loạn do sử dụng rượu nên được giới thiệu điều trị tâm lý xã hợi và tâm thần trước khi ghép gan để bảo đảm ít nhất 6 tháng kiêng cử và tránh tái phát, đặc biệt vì tái phát dẫn đến loại bệnh nhân khỏi danh sách chờ. Trong những trường hợp viêm gan do rượu cấp không đáp ứng với điều trị y tế, ghép gan có thể cần thiết nếu đạt sự kiêng cử ít hơn 6 tháng.

 

  • Những bệnh nhân bị suy gan cấp (ALF) trở nặng nhanh, phát triển suy gan nặng, bilirubin, aminotransferases tăng, bệnh não và bệnh đông máu (INR > 1.5). Acetaminophen chịu trách nhiệm cho hơn phân nửa ca ALF ở Mỹ. ALF được coi là chỉ định rất cao (1a) cho ghép gan vì nó thắng tất cả những nguyên nhân khác của bệnh gan mạn và ưu tiên trên danh sách chờ UNOS (The United Network for Organ Sharing [Mạng Liên Hiệp chia sẻ nội tạng). Phải đạt những yêu cầu sau được ưu tiên trên danh sách chờ như trong ca (1a) ALF:
  1. Nằm phòng chăm sóc đặc biệt (ICU)
  2. Hỗ trợ thở
  3. Cần thẩm phân 
  4. INR cao > 2
  5. Phát triển bệnh não da gan trong thời gian 8 tuần từ lúc xuất hiện triệu chứng
  6. Điều quan trọng là phải nhớ rằng so với ghép gan do bệnh mãn tính, tỷ lệ sống sót 1 năm trong ghép gan do ALF tệ hơn, nhưng có tỷ lệ sống sót cao hơn sau nằm đầu. 
  7. Bệnh nhân bị Ung thư gan (HCC) 

 

  • Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất cho ghép gan. NASH là một phần của sự tiếp tục bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, bao gồm mọi thư từ chứng nhiễm mỡ một mình đến NASH có xơ gan. Những bệnh gan này đi kèm hội chứng chuyển hóa, chỉ số thể trọng cao (BMI), và béo phì. Vì hiện nay không có liệu pháp khả thi cho NASH hoặc xơ, nên số ca ghép gan đã tăng do NASH. Ngoài ra, người bị NASH, có hoặc không có xơ gan, có nguy cơ cao phát triển HCC.

 

  • Nên ghép gan cho những người suy gan cấp do bệnh Wilson hoặc người bị xơ gan mất bù và thất bại với tất cả các thuốc. Ngay cả trong những trường hợp có vấn đề chuyển hóa như suy thận, hồi phục sau ghép gan, nên ghép gan có kết quả tốt trong bệnh Wilson. 

 

  • Những người trưởng thành không có tiền sử bệnh gan thường được chẩn đoán suy giảm alpha-1 antitrypsin. Ghép gan là tùy chọn điều trị đầu tiên và duy nhất cho bệnh gan mất bù gây bởi suy giảm alpha-1 antitrypsin. Không có nguy hiểm tái phát sau ghép gan do biểu hiện gien alpha-1 antitrypsin của người hiến tạng. Chụp hình ngực và xét nghiệm chức năng phổi nên được sử dụng để sàng lọc bệnh nhân bệnh phổi.

 

  • Ghép gan khuyến cáo cho người xơ gan mất bù hoặc HCC người bị thừa sắt di truyền (HH). Xơ gan do HH có cơ hội cao nhất phát triển HCC khi so với những loại xơ gan khác. Việc sử dụng liệu pháp giảm sắt trước khi ghép bằng mở tĩnh mạch dẫn đến cải thiện kết quả sau ghép gan.

 

Chống chỉ định

Mặc dù những tiêu chí ghép gan ngày càng tăng, nhưng chống chỉ định ít hơn khi các phương pháp ghép gan cải thiện. Tuy nhiên, có nhiều chống chỉ định tương đối và tuyệt đối với ghép gan.

 

Chống chỉ định tuyệt đối  

  • Điểm MELD < 15
  • Bệnh tim hoặc phổi tiến triển
  • Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS)
  • Đang nghiện rượu hoặc ma túy
  • HCC hoặc ung thư túi mật quanh rễ di căn
  • Nhiễm trùng máu hoặc sốc nhiễm trùng chưa điều trị
  • Bất thường giải phẫu học loại trừ ghép gan
  • Ung thư túi mật trong gan
  • Ung thư ngoài ra, trừ khi bệnh nhân không có khối u trong hơn 2 năm có xác xuất tái phát thấp.
  • Sarcome mạch
  • Suy gan bùng phát dẫn đến áp lực nội sọi kéo dài (ICP) > 50 mmHg hoặc áp lực tưới máu não (CPP) < 40 mmHg.
  • Không được hỗ trợ tâm lý xã hội và bệnh tâm lý nặng
  • Tăng huyết áp phổi nặng

Mặc dù AIDS là chống chỉ định không tranh cãi với ghép gan, nhưng vài bệnh viện ngày nay coi bệnh nhân dương tính HIV như ứng viên cho ghép gan.

 

Chống chỉ định tương đối

  • Yếu ớt
  • Không tuân thủ lâu dài
  • Tuổi cao
  • Từng phẫu thuật bụng mở rộng
  • Huyết khối tĩnh mạch cửa hoặc màng treo ruột

 

Phẫu thuật ghép gan bệnh viện




Chuẩn bị

Nhiều đặc điểm và vấn đề sức khỏe thiết yếu ở ứng viên ghép gan phải được giải quyết trong khi khám trước khi ghép. Đánh giá này nên bao gồm tiền sử toàn diện, đầy đủ và khám lâm sàng, xét nghiệm, và chẩn đoán hình ảnh để thực hiện sự kiểm tra hệ thống đầy đủ và quản lý bệnh nhân thích hợp. 

  • Béo phì: Những bệnh nhân nên được đánh giá BMI cao vì nó làm tăng cơ tiền hậu phẫu và làm giảm tỷ lệ sống sót dài hạn ở bệnh nhân ghép gan. Người béo phì có BMI 30 kg/m2 hoặc cao hơn nên tìm đến chuyên gia ăn kiêng, và BMI 40 kg/m2 hoặc cao hơn được coi là chống chỉ định tương đối trong ghép gan.

 

  • Bệnh động mạch vành: Đánh giá nguy cơ tim mạch tiền hậu phẫu là việc tối cần. Tất cả các bệnh nhân nên làm xét nghiệm stress tim, bằng vật lý hoặc hóa học. Nếu phát hiện hẹp tim, nên tái tạo mạch vành trước khi hiến gan.

 

  • Tuổi: Mặc dù tiên lượng cho cấy ghép ở người > 70 tuổi không tốt như bệnh nhân trẻ, nhưng cao tuổi không phải là chống chỉ định cho ghép gan ở những bệnh nhân không có hoặc có bệnh khác quản lý được. Người ta vừa chứng minh rằng những ứng viên cao tuổi được lựa chọn tốt có thể hưởng lợi từ ghép gan, qua sự phục hồi tuổi thọ dự đoán của họ.

 

  • Hội chứng gan phổi: Đó là một tình trạng được đặc trưng bởi thở gấp và chứng giảm oxy máu ở người bị bệnh gan mãn, nhất là những người bị HTN tĩnh mạch cửa. Điều này liên quan đến giãn mao mạch phổi, dẫn đến sun trong phổi. Nên dùng oxy kế xung lực để để sàng lọc bệnh nhân trước khi ghép gan. Tùy theo độ nặng của của hội chứng gan phổi, bệnh nhân có thể cần thời gian hồi phục lâu hơn và thở oxy bổ sung dài hạn sau ghép gan.



  • Suy thận: Bệnh nhân bệnh thận phải được phát hiện trước khi ghép gan, vì suy thận làm tăng mạnh tử suất. Nếu một bệnh nhân có tốc độ lọc cầu thận (GFR) < 30 mL/min, chỉ ra bệnh thận mạn hoặc suy thận cấp cần thẩm phân > 8 tuần. Điều này cũng được khuyến cáo nếu bị xơ cứng cầu thận nặng.

 

  • Hút thuốc lá: làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân ghép gan do bệnh tim. Nó cũng làm tăng khuynh hướng huyết khối động mạch gan. Nến cấm thuốc lá, và nhiều bệnh viện coi việc cai thuốc là điều kiện tiên quyết cho ghép gan.

 

  • Ung thư ngoài gan: Trước khi ghép gan, bệnh nhân phải được sàng lọc theo tuổi. Ner61u họ có những yếu tố nguy cơ cao với một loại ung thư cụ thể, nên xét nghiệm loại ung thư đó. Bất kỳ bệnh nhân nào được chẩn đoán tiền sử ung thư phải được điều trị và chữa khỏi trước khi ghép gan.

 

  • Dinh dưỡng: Trước khi ghép gan, bệnh nhân phải được đánh giá bởi chuyên gia dinh dưỡng, vì điều trị suy dinh dưỡng kèm theo bệnh gan mạn và kém hấp thu mỡ là điều quan trọng. Quản lý chế độ ăn đầy đủ liên quan đến những bệnh khác như tiểu đường, tăng huyết áp, và chứng tăng lipid máu nên được coi trọng. 

 

  • Đánh giá tâm lý: Điều tối quan trọng trong sàng lọc ứng viên ghép gan về bất kỳ bệnh tâm lý nào đều ảnh hưởng mạnh đến tiên lượng, sự tuân thủ dùng thuốc, và hướng dẫn y khoa cho họ. Đánh giá những mạng lưới hỗ trợ xã hội và sự sẵn có người chăm sóc cũng là việc quan trọng, nhất là với bệnh nhân bệnh não.

 

Phẫu thuật Ghép gan 

Có hai phần với mỗi thủ thuật ghép gan: người hiến và người nhận.

Sau khi phân tách những phần phụ dây chằng gan và những cấu trúc rễ, gan ban đầu của bệnh nhân được bỏ đi. Tĩnh mạch chủ dưới (IVC) được khoanh vùng để bảo đảm kiểm soát máu thỏa đáng. Người hiến có thể chết hoặc còn sống.

Ghép gan từ người người hiến tạng đã chết (DDLT): Ghép nguyên gan đang trở nên phổ biến hơn. Gan người hiến thường được chuẩn bị trên một bàn riêng, và sau khi cơ thể người nhận đã được chuẩn bị, gan người hiến được chuyển lên bàn, và nối mạch được thành lập nếu cần.

IVC trên gan được kết nối trước, rồi đến IVC dưới gan, và cuối cùng là tĩnh mạch cửa. Sau khi hoàn tất những giai đoạn này, thả kẹp ra, và tĩnh mạch cửa bắt đầu rút máu vào gan để tưới. Những động mạch gan của người hiến và người nhận được kết nối lúc kết nối động mạch dạ dày tá tràng, và sữa ống dẫn mật.

Trái với mô ghép hoàn toàn được làm bởi người hiến đã chết, mô ghép của người hiến còn sống là từng phần. Vì mô ghép của người hiến còn sống có động mạch gan, tĩnh mạch gan và tĩnh mạch cửa để cấy nhỏ hơn rõ ràng, nên thành phần quan trọng nhất là tạo ra một phòng thích hợp bằng cách cắt tĩnh mạch gan dọc theo thành bên để bảo đảm các nguồn đầy đủ cho sự tái tạo động mạch gan, tĩnh mạch cửa và ống dẫn mật.

Tĩnh mạch gan được kết nối trước, cần thời gian kết nối thích hợp, tiếp theo là tĩnh mạch cửa, và cuối cùng là động mạch gan, là một vấn đề vì nhiều nhánh ngắn. Cuối cùng kết nối ống dẫn mật.

Những mô ghép từ người hiến còn sống bao gồm phần bên trái, chiếm khoảng 20% tổng thể tích gan, thùy trái chiếm khoảng 40% thể tích gan, và thùy phải, chiếm 60% còn lại. Cấy ghép kép đôi khi được sử dụng, trong đó 2 thùy trái từ hai người hiến tặng được cấy vào một người nhận.

Những người hiến tặng được cắt gan tất cả đều có vết cắt rõ ở vùng dưới sườn trái kéo đến giữa bụng, tránh cắt cơ thẳng hai bên. Trước khi đóng vết thương trong những ca hiến tặng thùy gan phải, thùy trái nên được nối vào thành bụng trước.

 

Các biến chứng

Các biến chứng sớm hoặc muộn sau ghép gan:

Các biến chứng sớm

  • Mất chức năng tiên phát của gan dị ghép
  • Huyết khối động mạch gan
  • Thải tế bào cấp
  • Các biến chứng mật
  • Nhiễm trùng

Những men gan bất thường thường trở về bình thường trong tuần đầu, và gan ghép bắt đầu tái sinh. Sự mất chức năng lớn của dị ghép là hậu quả sau ghép gan quan trọng nhất. Hậu quả tức thời biểu hiện như không sản xuất mật hoặc tạo mật trong suốt, cả hai đều liên quan đến suy giảm men gan và hàm lượng bilirubin. Hậu quả tức thời này yêu cầu sử dụng ghép tươi để bệnh nhân sống sót.

48-72 giờ sau ghép gan thường cho thấy men gan bất thường, chỉ ra mô ghép có hại do thiếu máu lạnh và ấm trong khi lấy ra cấy vào người nhận. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải loại trừ huyết khối động mạch gan sau ghép gan, và làm siêu âm Doppler.

Huyết khối động mạch gan phổ biến nhất trong những tháng đầu sau ghép gan, nhưng nó có thể phát triển muộn hơn. Biểu hiện lâm sàng thay đổi, có người không có triệu chứng hoặc phát triển sốt và tăng men gan có thể dẫn đến thiếu máu gan, hoại tử, và bệnh mật do thiếu máu. Bệnh nhân có thể cần tái ghép tùy theo độ nặng của suy chức năng mô ghép, nhất là khi xảy ra trong tuần đầu tiên sau ghép gan.

Thường gặp thải tế bào cấp, ảnh hưởng đến 50% bệnh nhân sau ghép gan. Phần lớn biểu hiện xảy ra trong 2 tháng đầu sau ghép gan, và đa số bệnh nhân phản ứng với corticoid. Cần globulin kháng ức bào trong thường hợp thải tế bào kháng corticoid. Để có chẩn đoán chính xác, nên sinh thiết gan. Triển vọng lâu dài đầy hứa hẹn.

Hẹp ống dẫn mật thường gặp nhất lúc nối ống dẫn mật. Làm giản bằng nội soi, đặt stent, hoặc ít hơn là kiểm tra lại phẫu thuật để xử lý việc này. Cũng có thể gặp hẹp ống không do kết nối hoặc thiếu máu do huyết khối động mạch gan, tương kỵ ABO, thiếu máu mảnh ghép kéo dài (ấm hoặc lạnh), hoặc mảnh ghép hiến sau khi đã chết tim.

Sự ức chế miễn dịch sau ghép gan làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội như CMV (virus thường gặp nhất), Candida (nấm thường gặp nhất), Pneumocystis carinii, Aspergillus, Nocardia, và Cryptococcus. Tacrolimus với cyclosporine có thể gây suy thần kinh và thận, cũng như phát triển chứng tăng glucose máu.

 

Các biến chứng muộn

  • Các biến chứng liên quan đến ức chế miễn dịch
  • Bệnh tái phát sau ghép gan
  • Ung thư mới

 

Những tác dụng có hại của thuốc ức chế miễn dịch gây phiền nhất cho những vấn đề muộn. Phổ biến nhất là bệnh thận mãn (CKD), tăng huyết áp, tiểu đường, và loạn lipid máu. Các chất ức chế calcineurin, cùng với CKD và HTN tiền cấy ghép, góp phần phát triển suy thận sau ghép gan. Điều này được sử lý quản lý bằng huyết áp chặt và giảm liều hoặc ngừng dùng các chất ức chế calcineurin.

Các thuốc ức chế miễn dịch làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch bằng cách tăng những yếu tô nguy cơ như tiểu đường, tăng huyết áp, béo phì, và loạn lipid máu. Điều này, cùng với lối sống nguy cơ cao ở bệnh nhân, dẫn đến tăng mạch xơ vữa động mạch.

 

Dùng corticoid dài hạn, suy dinh dưỡng, và suy giảm vitamin D do bệnh gan tất cả đều làm tăng nguy cơ loãng xương. Vấn đề này vừa được giảm thiểu do điều trị hiệu quả với bisphosphonate và các liều corticoid thấp.

Các chất ức chế calcineurin gây suy nhược thần kinh, rõ nhất là run rẩy, cũng như mất ngủ và liệt. Viêm gan B hoặc C tái phát là những ví dụ về bệnh tái phát sau ghép gan. Cả hai đều được quản lý tốt sau ghép gan. Những bệnh gan mạn khác như NASH, PBC, PSC, AIH, và HCC, có thể tái phát.

Ung thư nguyên phát là nguyên nhân hàng đầu của tử vong ở bệnh nhân ghép gan theo thời gian. Điều này liên quan đến sự kết hợp những yếu tố nguy cơ, bao gồm ức chế miễn dịch, nhiễm virus, dùng rượu, hút thuốc, và tuổi cao. Ung thư da, bệnh tăng sản lym phô bào (PTLD), và ung thư cổ tử cung, âm đạo, và hậu môn là những loại ung thư thường gặp nhất ở người ghép gan.

 

Chi phí ghép gan

Những chi phí tự chi trả cho những người có bảo hiểm y tế thường bao gồm phí bác sĩ, xét nghiệm, đồng chi trả thuốc kê toa, cũng như đồng bảo hiểm 10% - 50% cho phẫu thuật và các thủ thuật khác, có thể vượt nhanh khản tự chi trả tối đa hàng năm. Ghép gan thường được bao trả bởi bảo hiểm y tế.

Chi phí ghép gan có thể đến $575,000 hoặc hơn cho người không có bảo hiểm, bao gồm điều trị theo dõi trong 6 tháng sau phẫu thuật.

 

Phẫu thuật ghép gan bệnh viện




Kết luận 

Ghép gan là một qui trình khó khăn khổng lồ cần một mức độ cao sự điều phối liên chuyên khoa trong tất cả thành viên của đội. Bác sĩ phẫu thuật, chuyên gia huyết học, OR và những y tá tại chỗ, những nhà dinh dưỡng, nhà trị liệu, và nhân viên xã hội tất cả đều là những thành tố quan trọng của đội ngũ y tế góp phần quan trọng vào kết quả ghép gan.

Nên quan tâm dự phòng và giảm thiểu những hậu quả dài hạn của sự ức chế miễn dịch, cũng như quản lý những vấn đề sớm và muộn và tái phát bệnh, dẫn đến sự suy xụp của bệnh nhân và có thể cần tái ghép. Với sự giao tiếp mở và phối hợp đa ngành, ghép gan có thể có xác xuất thành công tốt hơn nhiều và tử suất và tử vong thấp hơn.