Search

Tỷ lệ sống còn của từng loại ung thư và nên cho đất nước nào để điều trị

Ngày cập nhật lần cuối: 05-Jun-2022

9 phút đọc

Ung thư đại diện cho một nhóm các bệnh liên quan đến sự phát triển bất thường của tế bào, có thể di căn và xâm lấn các bộ phận khác nhau của cơ thể. Trong ung thư, các tế bào bắt đầu phân chia không kiểm soát được, chúng xâm chiếm và phá hủy các mô cơ thể bình thường. Ung thư có thể dễ dàng di căn khắp toàn bộ cơ thể, khiến nó trở thành nguyên nhân thứ hai gây tử vong trên toàn thế giới. Năm 2018, 1 trong 6 trường hợp tử vong trên toàn cầu là do ung thư, với 9,6 triệu ca tử vong trên toàn thế giới. Tuy nhiên, chẩn đoán ung thư không nhất thiết đồng nghĩa với tử vong, và, nhiều tính mạng sẽ được cứu mỗi ngày khi các công nghệ và phương pháp điều trị trên khắp thế giới liên tục được cải thiện, cũng như khi nhận thức được nâng cao nhiều hơn xung quanh các biện pháp phòng ngừa và chẩn đoán sớm.

 

Các nguyên nhân gây ung thư

Các nghiên cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ phổ biến nhất đối với ung thư là chỉ số khối cơ thể cao, lượng trái cây và rau quả nạp vào thấp, thiếu các hoạt động thể chất và sử dụng thuốc lá và rượu. Chỉ riêng thuốc lá đã là một trong những nguy cơ chính gây ung thư, nó chịu trách nhiệm cho gần 22% trường hợp tử vong do ung thư. Ngoài ra, các loại virus như Helicobacter pylori, Human Papillomavirus (HPV), Viêm gan B, Viêm gan C và Epstein-Barr cũng đã được xác định dẫn tới tình trạng nhiễm trùng gây ung thư, chịu trách nhiệm cho 15% các bệnh ung thư được chẩn đoán vào năm 2012. Ngoài các yếu tố nguy cơ có thể sửa đổi mà bất kỳ bệnh nhân nào cũng có thể cải thiện thông qua việc thay đổi lối sống, sự lão hóa là một yếu tố cơ bản khác cho sự phát triển của ung thư. Tỷ lệ mắc ung thư tăng đáng kể theo tuổi tác. Khi các bệnh nhân già đi, sự tích tụ nguy cơ tổng thể sẽ được kết hợp với xu hướng kém hiệu quả của các cơ chế sửa chữa tế bào.

 

Tỷ lệ mắc ung thư

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, các bệnh ung thư phổ biến nhất là: phổi (2,09 triệu ca mỗi năm); vú (2,09 triệu trường hợp mỗi năm); Đại trực tràng (1,80 triệu trường hợp mỗi năm); Tuyến tiền liệt (1,28 triệu trường hợp mỗi năm); Ung thư da (không phải ung thư tế bào hắc tố) (1,04 triệu trường hợp mỗi năm); Dạ dày (1,03 triệu trường hợp mỗi năm). Đồng thời, các loại ung thư nguy hiểm nhất bao gồm: Phổi (1,76 triệu ca tử vong mỗi năm); Đại trực tràng (862.000 ca tử vong mỗi năm); Dạ dày (783.000 ca tử vong mỗi năm); Gan (782.000 ca tử vong mỗi năm); Vú (627.000 ca tử vong mỗi năm).

 

Chẩn đoán ung thư

Chẩn đoán ở giai đoạn phát triển sớm của ung thư có liên quan đến viêc cải thiện kết quả lâm sàng và tăng cơ hội sống sót. Chẩn đoán sớm có thể được cải thiện thông qua việc giảm thời gian chờ đợi để gặp bác sĩ chuyên khoa hoặc thời gian chờ xét nghiệm chẩn đoán. Nó cũng có thể được cải thiện thông qua các can thiệp y tế cộng đồng, chẳng hạn như các chương trình sàng lọc và các chiến dịch giáo dục. Đây là một trong những lý do khiến tỷ lệ sống sót sau ung thư khác nhau giữa mỗi quốc gia tùy thuộc vào mức độ mạnh của hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Giai đoạn ung thư được chẩn đoán dựa trên mô tả kích thước của một khối u và tình trạng lan rộng bao xa từ nơi nó bắt nguồn. Hệ thống giai đoạn số phân loại ung thư thành bốn giai đoạn, từ 1 đến 4, trong đó giai đoạn 1 là giai đoạn sớm nhất. Giai đoạn 1 và 2 được coi là các giai đoạn chẩn đoán sớm, trong đó giai đoạn 1 chỉ ra rằng ung thư vẫn còn nhỏ, trong khi giai đoạn 2 chỉ ra rằng ung thư đã phát triển, nhưng chưa lan rộng ở bất cứ nơi nào khác trong cơ thể. Nếu ung thư được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, một khi nó đã di căn, thì cơ hội sống sót sẽ giảm do việc điều trị hiệu quả trở nên khó khăn hơn.

 

Tỷ lệ sống sót sau ung thư

Tỷ lệ sống sót sau ung thư là một trong những thước đo chính về hiệu quả của các dịch vụ ung thư. Tỷ lệ sống sót này nắm bắt cả việc hệ thống tốt như thế nào trong việc phát hiện bệnh và việc liệu bệnh nhân có được tiếp cận nhanh chóng với điều trị hiệu quả hay không. Hiện nay có một sự đa dạng rất lớn về tỷ lệ sống giữa các loại ung thư, do một loạt các yếu tố: giai đoạn bệnh của bệnh nhân, điều trị và các yếu tố sinh học.

Tỷ lệ sống sót được liệt kê dưới đây dựa trên dữ liệu thu được từ Văn phòng Thống kê Quốc gia, Vương quốc Anh. Các loại ung thư có tỷ lệ sống sót cao nhất sau 5 năm đối với cả nam và nữ là: ung thư hắc tố da (91,3%); ung thư tuyến giáp (87,4%); u lympho Hodgkin (82,2%); u lympho không Hodgkin (65,6%) và ung thư thận (63,8%). Tỷ lệ sống sót cao nhất sau 5 năm đề cập đến tỷ lệ những người sẽ sống sót tới 5 năm sau khi được chẩn đoán ung thư. Xem xét kỹ hơn tỷ lệ sống sót cho từng giới, tỷ lệ sống sót cao nhất đối với các ung thư tính riêng cho nam giới là như sau: ung thư tinh hoàn (95,3%), ung thư tuyến tiền liệt (86,6%) và ung thư thanh quản (63,9%); tính riêng cho phụ nữ là các loại ung thư: vú (85%); tử cung (75,6%); âm hộ (67,1%); cổ tử cung (61,4%) và buồng trứng (42,6%).

 

Tỷ lệ sống sót sau ung thư trên khắp các quốc gia

Có một mối quan hệ nhân quả mạnh mẽ giữa môi trường và ung thư. Các nghiên cứu cho thấy hầu hết các trường hợp tử vong do ung thư xảy ra ở các nước nghèo, kém phát triển và ở các tầng lớp thu nhập thấp và trung bình. Việc con người không thể chăm sóc cơ thể họ một cách chính xác có thể có các hiệu ứng chết người. Ngoài ra, việc thiếu bệnh viện và nhân viên y tế được đào tạo tốt là một vấn đề khác ở các nước kém phát triển hơn. Như các nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân có nhiều cơ hội điều trị thành công ung thư và sống sót ở các nước phát triển nhất hơn so với ở những nước kém phát triển. Dựa trên thông tin thu được từ "Thế giới của chúng ta trong dữ liệu", năm 2009, tỷ lệ sống sót của ung thư phổi sau 5 năm là khoảng 30%, trong khi ở Bulgaria và Mông Cổ chỉ là 7%. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm của ung thư vú là hơn 80% ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Đại Dương, trong khi ở Jordan chỉ có 43%. Tỷ lệ sống sót thấp nhất của ung thư gan năm 2009 được ghi nhận ở Romania với 2,3%, trong khi tỷ lệ sống sót ở Nhật Bản cho cùng bệnh là gần 27%.

Tỷ lệ sống sót tăng đáng kể khi bệnh nhân được bắt đầu điều trị ở giai đoạn sớm của bệnh. Càng sớm phát hiện bệnh, bệnh nhân càng có nhiều cơ hội sống sót. Tỷ lệ sống sót cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi khả năng tài chính của mỗi bệnh nhân, do việc nhiều tiền hơn đồng nghĩa với việc có khả năng mua các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất được tìm thấy ở các quốc gia hàng đầu về kinh tế vì các bệnh viện được hưởng lợi cả từ thiết bị hiện đại và các chuyên gia y tế uy tín.

Tỷ lệ sống sót của ung thư chắc chắn có liên quan chặt chẽ với hành vi của con người. Khi chúng ta cải thiện lối sống của mình, chúng ta cũng từ từ thực hiện quá trình chống lại ung thư. Ví dụ, một trong những yếu tố nguy cơ chính của ung thư là hút thuốc. Ở các nước phát triển nhất, các trường hợp ung thư phổi đang trên đà giảm xuống khi hút thuốc dần trở thành một việc trong quá khứ, khi mọi người đã nhận thức rõ hơn về những rủi ro sức khỏe đi kèm với nó. Đồng thời, số ca ung thư cao hiện nay trên thế giới cũng có thể được giải thích bởi tuổi thọ tăng.

 

Chọn quốc gia nào để điều trị

Như đã thảo luận trước đó, tỷ lệ sống sót của ung thư thay đổi đáng kể ở các quốc gia. Tỷ lệ sống sót của mỗi quốc gia có liên quan chặt chẽ với việc đầu tư vào các loại thuốc mới cho tất cả các bệnh ung thư và đầu tư vào thiết bị y tế. Các quốc gia giàu có hơn có kết quả sống sót sau ung thư tốt hơn đã thiết lập các chính sách ưu tiên ung thư, thực hiện các nhân tố chính của chương trình kiểm soát ung thư, giới thiệu các quy trình chăm sóc tích hợp và tích cực hoạt động để cung cấp các dịch vụ ung thư; họ đang dẫn đầu trong công cuộc điều trị ung thư. Ví dụ, Nhật Bản, Úc, Hoa Kỳ và Hàn Quốc là những quốc gia có tỷ lệ sống sót sau 5 năm cao nhất. Họ liên tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để cung cấp các dịch vụ y tế hàng đầu, cập nhật cho những bệnh nhân có nhu cầu.

Quyết định chọn quốc gia nào để điều trị ung thư có thể gây choáng ngợp cho bệnh nhân và gia đình. Do đó, sự hỗ trợ từ một nhóm các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể cực kỳ có giá trị trong quá trình này vì họ có thể sử dụng chuyên môn của mình để đánh giá các dịch vụ có sẵn trên toàn thế giới và đưa ra các khuyến nghị theo nhu cầu cụ thể của từng bệnh nhân.

Bài viết

Các bài báo khác