U nội mạc tử cung

Ngày cập nhật cuối cùng: 20-Apr-2023

Ban đầu được viết bằng tiếng Anh

U nội mạc tử cung

Tổng quan

U nội mạc tử cung là những nang phát triển trên buồng trứng và đôi khi được gọi là "các nang sô cô la" do màu tối của chúng. Những mô nội mạc thành lập trên các trứng này tạo ra những nang này. U nội mạc tử cung có thể phát triển ở những phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung.

Những triệu chứng u nội mạc tử cung gồm hành kinh đau và rong kinh. Quản lý dự kiến, liệu pháp thuốc và/hoặc phẫu thuật, và thụ tinh trong ống nghiệm là những biện pháp thay thế cho điều trị. Lựa chọn điều trị chủ yếu được quyết định bởi những triệu chứng liên quan.

 

U nội mạc tử cung buồng trứng

U nội mạc tử cung buồng trứng

U nội mạc tử cung là những tổn thương nang gây bởi quá trình bệnh lạc nội mạc tử cung. U nội mạc tử cung là nang phụ thuộc estrogen lành tính gặp ở phụ nữ tuổi sinh sản. U nội mạc tử cung buồng trứng liên quan đến vô sinh; mặc dù chưa rõ nguyên nhân cụ thể, nhưng số trứng và chất lượng được coi là kém.

Những trứng này là nơi phổ biến nhất cho u nội mạc tử cung. Lạc nội mạc tử cung, ảnh hưởng khoảng 10% phụ nữ tuổi sinh sản, là nguyên nhân phổ biến của đau kéo dài, đau khi hành kinh, thiểu kinh và vô sinh. Lạc nội mạc tử cung thường nằm ở khung chậu, đặc biệt trên trứng. U nội mạc tử cung là biểu hiện lạc nội mạc tử cung buồng trứng thường gặp nhất.

Vì vẻ nâu tối dày của dịch trong những khối u này, chúng thường được gọi là nang sô cô la. U nội mạc tử cung cho biết tình trạng bệnh nặng hơn ở bệnh nhân lạc nội mạc tử cung và có thể là vấn đề duy nhất ở những người này, như sự bảo tồn trứng giảm. 

 

Dịch tễ học

Lạc nội mạc tử cung cho thấy ảnh hưởng đến khoảng 10% phụ nữ tuổi sinh sản. Tuy nhiên, bệnh nặng trên lâm sàng chỉ ảnh hưởng khoảng 3% phụ nữ tuổi sinh sản. Có một nhóm rõ rệt trong số 3% này có tần suất cao lạc nội mạc tử cung. Lạc nội mạc tử cung, ví dụ, đã phát hiện khoảng 50% phụ nữ gặp vấn đề vô sinh và gần 70% phụ nữ có vấn đề về chậu.

Khi nói về tần suất u nội mạc tử cung, có sự khan hiếm dữ liệu. Tuy nhiên, dự kiến 17-44% phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung sẽ phát triển u nội mạc tử cung, với 28% phát triển u nội mạc tử cung hai bên. U nội mạc tử cung gặp ở khoảng 17% phụ nữ cận vô sinh.

Cũng có sự khan hiếm bằng chứng để thiết lập nguy cơ rõ ràng cho chính u nội mạc tử cung. Tuy nhiên, có những yếu tố nguy cơ đã biết cho sự phát triển lạc nội mạc tử cung nói chung.

Gồm:

  • Người chưa sinh con
  • Có kinh sớm (thường 11-13 tuổi) 
  • Mãn kinh muộn, chu kỳ kinh ngắn (<27 ngày) 
  • Rong kinh
  • Những bất thường Mullerian 
  • Cao hơn 68 inches
  • BMI nhỏ 
  • Ăn nhiều chất béo chưa no dạng trans
  • Phơi nhiễm trong tử cung với diethylstilbestrol 

Ngoài những yếu tố nguy cơ lạc nội mạc tử cung, có vài thứ lạc nội mạc tử cung đặt bệnh nhân ở nguy cơ cao hơn. Nhiều trong số đó đã nói, gồm vô sinh, đau chậu kéo dài, không thể đi tiêu không đau, đau khi giao hợp, và rối loạn kinh nguyệt. Lạc nội mạc tử cung, mặt khác, liên quan đến nguy cơ tăng vài loại ung thư buồng trứng ở phụ nữ.

Ung thư buồng trứng vẫn là bệnh nguy cơ thấp nói chung. Tuy nhiên, vài nghiên cứu, cho thấy phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung có nguy cơ cao phát triển tế bào trong suốt và ung thư buồng trứng dạng nội mạc tử cung. Một nghiên cứu đặc biệt ở Phần Lan phát hiện ra nguy cơ cao chỉ ở phụ nữ bị u nội mạc tử cung.

 

Nguyên sinh bệnh học 

U nội mạc tử cung được cho là phát sinh khi mô nội mạc tử cung lạc vị, thường gặp nhất ở buồng trứng, chảy máu và tạo bướu máu. Vì mô nội mạc tử cung lạc vị vẫn còn hoạt tính hormon, điều này thường gặp trong suốt đợt hành kinh bình thường. Kết quả là mô này, sẽ rụng tự nhiên khi hết progesterone sau khi tan hoàng thể.

Tuy nhiên, không như bướu máu điển hình gặp sau rụng trứng, chúng được bao phủ bằng chất đệm nội mạc tử cung dính và các tuyến và chứa nhiều mô xơ. Kết quả là, chúng được tìm thấy nhiều hơn với những chất keo có mặt ở những mô bên cạnh, có thể gây đau nhiều cho bệnh nhân này cũng như nhiều biến chứng khác cho nhà phẫu thuật trong phẫu thuật cắt bỏ u nội mạc tử cung. 

Khi xem xét nguyên sinh bệnh u nội mạc tử cung, người ta cũng thường thăm dò nguyên sinh bệnh của lạc nội mạc tử cung, vì đây là tình trạng báo trước u nội mạc tử cung. Sự phát sinh lạc nội mạc tử cung, mặt khác, là một chủ đề gai góc trong nghề y. Hành kinh ngược là giả thuyết được công nhận sớm và nhiều nhất cho sự phát sinh lạc nội mạc tử cung.

Theo ý tưởng này, lạc nội mạc tử cung phát triển do kết quả của mô nội mạc tử cung di chuyển ngược qua vòi fallop và vào khung chậu trong khi hành kinh. Mô này sau đó làn tràn và nảy nở khắp cơ thể, dẫn đến tổn thương lạc nội mạc tử cung. Như đã mô tả, vài tổn thương có thể nảy nở ở buồng trứng và bắt đầu quá trình trở thành u nội mạc tử cung.

Ý tưởng hành kinh ngược có vai trò lớn nhất trong sự phát triển lạc nội mạc tử cung. Tuy nhiên, đa số nhân viên y tế tin rằng đó là sự phát triển đa yếu tố. Ví dụ, ý này khó chấp nhận ở phụ nữ bị tổn thương lạc nội mạc tử cung xa hoặc phụ nữ tiền dậy thì bị lạc nội mạc tử cung.

Kết quả là, có những giả thuyết khác, như ý tưởng về dị sản. Theo quan điểm này, các tế bào ngoài tử cung bị dị sản và biệt hóa chéo thành các tế bào nội mạc tử cung. Một niềm tin rộng rãi khác những tế bào nội mạc tử cung còn sống được cấy bởi sự phát tán huyết học và bạch huyết. Không có một ý tưởng nào được xác nhận hoàn toàn, và phần lớn là hỗn hợp giả thuyết nói trên.

 

Sinh lý bệnh học

U nội mạc

U nội mạc tử cung có cùng sinh lý bệnh học như lạc nội mạc tử cung nói chung vì chúng là những tiểu nhóm của rối loạn y khoa lớn hơn. Phản ứng hormon của mô nội mạc tử cung bị lạc vị bắt đầu quá trình bệnh này. Mô này, cũng giống như nội mạc tử cung trong tử cung, phản ứng với những thay đổi hormon theo chu kỳ và đợt hành kinh.

Nó sẽ tăng sinh, bài tiết, và thoái lui giống như trong tử cung. Sự biến thiên về nồng độ cytokine và prostaglandin có từ những thay đổi này.

Cytokine và prostaglandin là những chất báo hiệu bắt đầu đáp ưng viêm, gây viêm ở vùng cấy nội mạc tử cung. Phản ứng viêm này sau đó tạo tiền đề cho sự thành lập mạch máu mới và mô xơ. Tính dính và sự khó chịu thường liên kết với quá trình bệnh này là kết quả của hiệu ứng bông tuyết.

Những bất thường này cũng góp phần vào hậu quả tiên phát của bệnh này, nhu vô sinh và khó chịu chậu kéo dài. Bệnh nhân u nội mạc tử cung bị nhiều bệnh nặng hơn và thường bị hơn với những người lạc nội mạc tử cung giai đoạn I hoặc II.

 

Những triệu chứng u nội mạc tử cung 

Những triệu chứng u nội mạc tử cung

 

Tiền sử

Bệnh nhân lạc nội mạc tử cung có triệu chứng thường là phụ nữ tuổi sinh chưa sinh lần nào với than phiền chính là rong kinh và đau khi hành kinh. Những kỳ kinh thường dài hơn 7 ngày. Họ có thể than khó chịu chậu kéo dài, đau khi giao hợp, hoặc khi đi tiêu. Những kỳ kinh của họ thường đều, tuy nhiên có thể ngắn hơn (<27 ngày). Sự bắt đầu khó chịu cho những người này thường là 2-3 ngày trước khi bắt đầu kỳ kinh khác, và đau thường bắt đầu hết vài ngày sau khi bắt đầu hành kinh.

U nội mạc tử cung có thể rất đau. Chúng thường nằm trên buồng trứng, và khó chịu thường khu trú 1 bên. Bệnh nhân có thể đau hai bên hoặc làn tràn tùy theo bệnh và bên tổn thương của họ. Khi u nội mạc tử cung vỡ, dịch nội mạc tử cung đặc có thể tràn vào bụng, gây khó chịu và viêm nặng. Những người này thường viêm bụng.

Mặc dù u nội mạc tử cung thường được phát hiện hơn ở buồng trứng, nhưng phải thận trọng với bệnh nhân có những triệu chứng đau. U nội mạc tử cung đã thấy ở những nơi không ngờ. U nội mạc tử cung, có ở sẹo phẫu thuật do cắt ở bụng.

Nội mạc tử cung cũng thấy ở nhu mô phổi và não. Lạc nội mạc tử cung nên được cân nhắc bất cứ khi nào bệnh nhân than đau có tính chu kỳ với kỳ kinh, bất kể khó chịu nơi nào.

 

Những triệu chứng

  • Đau chậu
  • Rong kinh
  • Đau khi hành kinh
  • Đau lưng
  • Đau khi giao hợp
  • Đau khi đi tiêu
  • Đau khi đi tiểu
  • Tiểu niều lần
  • Buồn nôn/nôn
  • Sình bụng

 

Thể chất

Những kết quả khám lâm sàng cho lạc nội mạc tử cung, kể cả u nội mạc tử cung, thường nhỏ. U nội mạc tử cung có thể thấy khi khám bằng hai tay nếu chúng đủ lớn. Ngoài ra, những người này chỉ có vài kết quả sai lạc. rát vùng bệnh hoặc đau chậu lan tỏa thường gặp. Tuy nhiên, điều này có thể bị ảnh hưởng bởi thời gian test liên quan đến kỳ kinh của bệnh nhân này.

Bệnh nhân này sẽ gặp nhiều khó chịu hơn nếu khám ngay trước khi bắt đầu kỳ kinh so với sau khi hết kinh. Tử cung cố định hoặc ngã ra sau, cho thấy sẹo do lạc nội mạc tử cung, là một kết quả khả dĩ khác khi khám bằng hai tay. Tính cộm của dây chằng tử cung xương cùng cũng có thể được sờ thấy lúc đó.

Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đến sau khi vỡ u nội mạc tử cung, bệnh nhân có thể bị đau bụng cấp khi đánh giá. Những triệu chứng quanh phúc mạc, thường biểu hiện như cứng bụng, đau lặp lại, và tự vệ tự phát, trong số những phát hiện này.

 

Chẩn đoán

U nội mạc chẩn đoán

U nội mạc tử cung thường thấy trên chẩn đoán hình ảnh. Khi chụp, chúng giống như những tổn thương nang khác, và bệnh lý sau cùng chỉ được phát hiện trong phẫu thuật. Nếu không thấy những đặc điểm này trên hình ảnh, chẩn đoán sẽ khó hơn nhiều. Điều quan trọng cần nhớ là sự khả kiến phẫu thuật của những tổn thương này cần thiết cho chẩn đoán xác định lạc nội mạc tử cung. Kết quả là, không thể thực hiện xét nghiệm chẩn đoán nào. Tuy nhiên, có vài xét nghiệm có thể hữu dụng để giúp trong chẩn đoán.

Các xét nghiệm công thức máu đầy đủ (CBC), kháng nguyên ung thư (CA)-125, CCR1, phân tích nước tiểu, và bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI) đều là những tùy chọn cho những bệnh nhân này. CBC có thể giúp xác định có nhiễm trùng hoặc thiếu máu hay không. Nếu số bạch cầu tăng, bác sĩ dễ nghi ngờ nguyên nhân nhiễm trùng của sự khó chịu ở chậu của bệnh nhân này. Vì những người này thường hành kinh lâu hơn và có thể thiếu máu, hemoglobin cũng có thể hỗ trợ dẫn dắt bạn đến mức độ mất máu.

Những hàm lượng CA-125 ở bệnh nhân lạc nội mạc tử cung có thể cao. Tuy nhiên, vì đây là yếu tố nhận diện không đặc hiệu, nó không được xếp hạng phổ biến. CCR1 là một dấu hiệu xét nghiệm mới tuyệt hơn trong bạch cầu máu ngoại biên của bệnh nhân lạc nội mạc tử cung. Điều này hiện nay không phải là một thực hành qui ước, nhưng có thể là một nghiệm pháp để thăm dò những người này như một phần của khám sức khỏe toàn diện.

Cũng cần phân tích nước tiểu để loại trừ nhiễm trùng niệu dục khỏi chẩn đoán phân biệt, cũng như những nghiệm pháp STD nuôi cấy cổ tử cung tìm bệnh l65u và khuẩn chlamydia.

Khi đến chẩn đoán hình ảnh, những bệnh nhân thường được siêu âm xuyên âm đạo để xem có sự giải thích thấy được cho việc đau chậu của họ không. Lạc nội mạc tử cung bề mặt không thể thấy trên siêu âm tâm đồ hoặc bất kỳ kỹ thuật hình ảnh nào khác. U nội mạc tử cung, mặt khác, thường được phát hiện bằng siêu âm tâm đồ. U nội mạc tử cung thường biểu hiện như các nang đơn.

Tuy nhiên, chúng có thể được quan sát thấy các nang nhiều ngăn hoặc những tổn thương nang cứng. Hình ảnh siêu âm đặc trưng của những tổn thương này là tiếng dội đồng nhất mức thấp, được gọi là hình loại bằng. Điều này tương hợp với sự có mặt của rác xuất huyết cổ. Khi được nghiên cứu bằng dòng doppler, những tổn thương này thường không có mạch máu.

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) và chụp cắt lớp vi tính là 2 phương pháp hình ảnh được cân nhắc (CT). MRI đã cho thấy nhạy cảm hơn siêu âm tâm đồ trong việc nhận diện khối u chậu. Tuy nhiên, vì MRI đắt đỏ, cản trở về tài chính, nên siêu âm tâm đồ thường được dùng hơn.

MRI, như siêu âm tâm đồ, hạn chế trong việc nhận ra lạc nội mạc tử cung chậu lan rộng và chỉ có thể có ích trong việc phát hiện u nội mạc tử cung. Mặc dù CT scan phơi nhiễm bệnh nhân với bức xạ, nhưng đặc tính của khối trên CT scan cho những chỉ dấu mạnh về loại khối u nào. Kết quả là, CT scan không phải là phương thức hình ảnh tốt nhất cho những người này.

Soi ổ bụng là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán lạc nội mạc tử cung. Vì hình ảnh và xét nghiệm không hiệu quả trong chẩn đoán lạc nội mạc tử cung, nên nhìn trực tiếp qua phẫu thuật là tiêu chuẩn vàng. Tổn thương lạc nội mạc tử cung thường có máu xanh hoặc đen trong khi soi ổ bụng. Tuy nhiên, chúng có thể là những tổn thương đỏ, trắng, không sắc tố.

Độ nặng của bệnh cũng có thể quyết định vào lúc này. Nếu chúng có tính dính mạnh, bất thường quanh phúc mạc, hoặc u nội mạc tử cung, cho thấy bệnh nặng hơn. Những tổn thương thấy được có thể đem sinh thiết và xét nghiệm tìm các tuyến và chất nền nội mạc tử cung. Nếu bệnh nhân cũng có vấn đề sinh sản, có thể nhuộm vòi fallop lúc đó để kiểm tra tình trạng vòi.

Soi ổ bụng là một kỹ thuật quan trong ở bệnh nhân lạc nội mạc tử cung vì, ngoài chẩn đoán, nó còn là điều trị, nhất là trong những ca u nội mạc tử cung. Đây là một thành phần quan trọng trong điều trị người lạc nội mạc tử cung kháng trị hoặc u nội mạc tử cung có triệu chứng. 

 

Điều trị U nội mạc tử cung 

Điều trị U nội mạc tử cung

Điều trị lạc nội mạc tử cung phần lớn gồm các thuốc hormon hoặc phẫu thuật. Những ca lạc nội mạc tử cung nhẹ hơn có thể được điều trị bằng các loại thuốc ngừa thai uống, các loại progesterone (viên uống, đặt trong tử cung), những chất chủ vận hormon phóng thích gonadotropin (GnRH (như leuprolide), hoặc androgen (như danazol). 

Tuy nhiên, nếu lạc nội mạc tử cung của bệnh nhân đã tiến triển thành u nội mạc tử cung, điều trị phẫu thuật được ưu tiên hơn. U nội mạc tử cung có thể được giảm kích thước bằng những chất chủ vận GnRH. Bệnh nhân, mặt khác, thấy không có khác biệt về sự khó chịu của họ. Kết quả là, những người bị u nội mạc tử cung thường được khuyên bỏ qua biện pháp thay thế này.

Điều trị phẫu thuật lạc nội mạc tử cung có thể từ bảo tồn đến xâm lấn, tùy theo những triệu chứng của bệnh nhân và thụ tinh trong tương lai. Phẫu thuật bảo tồn bao gồm bỏ tổn thương nội mạc tử cung (thường bằng laser hoặc đốt), dẫn lưu u nội mạc tử cung, và bỏ các nang. Tuy nhiên, nếu sự khó chịu của bệnh nhân trầm trọng và bà ấy không muốn có con trong tương lai, có thể cắt bỏ tử cung bằng cắt buồng trứng và vòi fallop hai bên như một giải pháp vĩnh viễn. 

Phẫu thuật, nhất là phẫu thuật bảo tồn, thường được làm qua soi ổ bụng. Điều quan trọng là phải bỏ thành nang trong khi cắt u nội mạc tử cung thay vì làm trống nang. Người ta chứng minh rằng điều này làm giảm tỷ lệ tái phát. Cắt u nội mạc tử cung cho thấy tăng cơ hội mang thai tự nhiên ở những bệnh nhân có vấn đề sinh sản.

Quan ngại lớn nhất với phẫu thuật u nội mạc tử cung, nhất là phụ nữ bị vô sinh và cân nhắc IVF, là có ảnh hưởng đến dự trữ trứng hay không. Phụ nữ đã cắt nang giảm hàm lượng AMH (hormon kháng mullerian), là hormon được bác sĩ dùng để đánh giá dự trữ trứng. Suy buồng trứng được ghi nhận ở 2-3% người sau khi cắt u nội mạc tử cung hai bên.

Kết quả là, không có nguy hiểm lớn nào cần cân nhắc khi quyết định phẫu thuật có thích hợp cho từng bệnh nhân dựa trên mục tiêu sinh sản của họ hay không. Vì hiếm bằng chứn, u nội mạc tử cung thường được điều trị như mong đợi nếu bệnh nhân đã gặp chuyên gia và cân nhắc IVF. Ngoại lệ duy nhất là u nội mạc tử cung có gây những triệu chứng quan trọng hoặc những vấn đề với việc tìm lại trứng hay không.

Vài bác sĩ điều trị nội khoa cho bệnh nhân sau phẫu thuật để tránh tái phát. Viên uống ngừa thai dùng 6 tháng đã chứng minh trong các nghiên cứu là có ích trong dự phòng tái phát. Tuy nhiên, tùy chọn điều trị này, tùy bệnh nhân họ có cố gắng thụ thai hay không.

 

Chẩn đoán Phân biệt

Khi khám người nghi u nội mạc tử cung, điều quan trọng là phải kiểm tra tất cả bệnh có thể. Vì bản chất dễ nhầm lẫn của u nội mạc tử cung và lạc nội mạc tử cung nói chung, nó có thể giống với các rối loạn khác.

Những người này thường cho là bị khó chịu khung chậu. Những nguyên nhân khác của khó chịu khung chậu là những vấn đề quan trọng cần nhớ. Đó là:

  • Thai lạc vị
  • Viêm bộ phận phụ
  • Bệnh viêm chậu
  • Xoắn buồng trứng
  • Viêm túi thừa
  • Nhiễm trùng niệu
  • Nang trứng (khác u nội mạc tử cung)
  • Bệnh lây qua đường tình dục (lậu, chlamydia)

 

Nếu có u gần tử cung và thấy qua chẩn đoán hình ảnh, có những đặc tính khối u có thể giúp xác định loại khối u nào. U nội mạc tử cung cho thấy nền trong suốt điển hình trên siêu âm tâm đồ, như đã nói trong mục khám bệnh ở trên.

Những đặc tính này cũng thấy trong các nang xuất huyết, và sự khác biệt giữa 2 loại đôi khi chỉ thấy trong cho sau phẫu thuật. Kết quả là, khi xử lý bằng chứng hình ảnh của u nội mạc tử cung, nên bao gồm các nang xuất huyết trong chẩn đoán phân biệt.

Ngoài ra, khi bệnh nhân đau bụng và lo lắng u nội mạc tử cung vỡ, điều quan trọng nhất cần cân nhắc là thai lạc vị vỡ và xoắn buồng trứng. Đây là cấp cứu phẫu thuật phải được điều trị nhanh nhất trong phòng phẫu thuật.

 

Tiên lượng

Bệnh nhân bị lạc nội mạc tử cung tiên lượng chung tốt. Đây là bệnh vô hại. Tuy nhiên, đó là bệnh mạn có thể trở nặng theo thời gian. Bệnh nhân u nội mạc tử cung có nhiều bệnh nặng hơn và có thể có hậu quả lâu dài. Mặc dù điều trị có lợi lâu, nhưng bệnh có khuynh hướng tái phát.

Kết quả là, mối lo lớn nhất với bệnh này là không có điều trị xác định chính thức, có thể dẫn đến những biến chứng lâu dài như khó chịu và vô sinh. May mắn thay, những triệu chứng của phần lớn người bị cải thiện khi mãn kinh vì không phát tín hiệu hormon theo chu kỳ.

 

Những biến chứng

U nội mạc tử cung có cùng hai vấn đề chính như lạc nội mạc tử cung. Như đã nói, những vấn đề này bao gồm khó chịu chậu kéo dài và vô sinh. Ngoài ra, nếu u nội mạc tử cung ≥ 6 cm, bệnh nhân này có nguy cơ cao hơn cho xoắn buồng trứng, là cấp cứu phẫu thuật có thể dẫn đến ,ất trứng. Lạc nội mạc tử cung làm tăng nguy cơ vài dạng ung thư buồng trứng, và u nội mạc tử cung có ít cơ hội tiến triển thành ác tính, mặc dù rất ít.

 

Kết luận 

Lạc nội mạc tử cung là một bệnh phụ khoa không ung thư, phụ thuộc estrogen đặc trưng bởi mô nội mạc tử cung nằm ngoài tử cung. Khi chăm sóc cho bệnh nhân u nội mạc tử cung, điều quan trọng là phải truyền đạt kỳ vọng điều trị cũng như những vấn đề khả dĩ của lạc nội mạc tử cung.

Phẫu thuật soi ổ bụng được dùng để điều trị u nội mạc tử cung. Kết quả là, trước khi tiến hành cắt nang qua soi ổ bụng, giáo dục bệnh nhân về những nguy cơ và thuận lợi của phẫu thuật soi ổ bụng. Điều quan trọng nữa là bệnh nhân phải biết u nội mạc tử cung phát triển do lạc nội mạc tử cung, là bệnh kéo dài hơn.

Bệnh nhân nên được báo rằng khoảng 25% người bị tái phát u nội mạc tử cung. Ngoài tái phát, bệnh nhân cũng có thể gặp những vấn đề sinh sản và khó chịu khung chậu kéo dài do lạc nội mạc tử cung, có thể cần điều trị thêm.